Hướng dẫn học phiên âm latinh trong tiếng trung

Chia sẻ

HƯỚNG DẪN ĐỌC PHIÊN ÂM LATINH ĐƠN GIẢN NHẤT

 

Để có thể phát âm chuẩn thì phải học cách đọc phiên âm latinh hoặc “bơ pơ mơ fơ” của Đài Loan. Nhưng đối với người Việt học tiếng trung thì học cách đọc bằng phiên âm latinh là cách đơn giản và nhanh nhất. Bài này ad sẽ giới thiệu tới các bạn cách đọc phiên âm latinh cách đơn giản nhất – dễ hiểu nhất.

Các bạn xem ví dụ sau: 你好 “Nǐ hǎo”  nếu viết âm bồi tiếng việt thì sẽ viết là “Ní hảo”, nhưng thực chất âm bồi không bao giờ chuẩn 100% theo cách đọc phổ thông tiếng Hoa. Nên việc học phiên âm latinh là điều hết sức quan trọng, hầu hết các sách học tiếng trung phổ thông hiện nay đều có phiên âm latinh bên cạnh (dưới) chữ cứng để cho người học có thể phát âm bất cứ chữ Hán nào. Quay lại ví dụ trên phần phiên âm latinh là “Nǐ hǎo” được cấu tạo bởi 3 thành phần:

  • Phần 1: chữ “N, h” đây gọi là thanh mẫu hay tiếng Việt gọi là phụ âm đầu (thường đứng ở đầu âm tiết).
  • Phần 2: chữ “i, ao” đây gọi là vận mẫu (là những chữ đứng phía sau thanh mẫu).
  • Phần 3: đó là thanh 3, dấu “v” (cũng như tiếng Việt mình có các dấu: sắc huyền ngã nặng…)

 

 

 

A: PHẦN 1 THANH MẪU (phụ âm đầu) trong tiếng Hoa có tất cả 21 thanh mẫu, sau đây chúng ta cùng tìm hiểu cách đọc các thanh mẫu này như thế nào nhé!.

1/ b (pơ): đọc gần giống với “p” trong tiếng Việt.

2/ p (đọc giống pơ nhưng bật hơi từ cuống họng).

3/ m (mơ): đọc gần giống “m” trong tiếng Việt.

4/ f (fơ): đọc gần giống “ph” trong tiếng Việt.

5/ d (tơ): đọc gần giống “t” trong tiếng Việt.

6/ t (thơ): đọc gần giống “th” trong tiếng Việt.

7/ n (nơ): đọc gần giống “n” trong tiếng Việt.

8/ l (lơ): đọc gần giống “l” trong tiếng Việt.

9/ g (cơ): đọc gần giống “c (k)” trong tiếng Việt.

10/ k (khơ): thực chất là đọc giống âm “g” (cơ) nhưng bật hơi từ cuống họng, cũng hơi gần giống “kh” trong tiếng Việt.

11/ h (hơ): đọc gần giống “h” (đọc nhẹ) trong tiếng Việt.

12/ j (chi): đọc gần giống “ch” (nhẹ) trong tiếng Việt.

13/ q (đọc như âm “j” (chi) nhưng bật hơi): gần như “ch” (bật hơi).

14/ x (xi): đọc gần như “x” trong tiếng Việt.

15/ z (chư, zư): hai hàm răng khép lại, lưỡi đặt thẳng, trong tiếng Việt không có âm này, cũng có thể na ná như ch.

16/ c (chư): đọc giống âm “z” nhưng bật hơi, trong tiếng Việt không có âm này, cũng có thể na ná như ch bật hơi.

17/ s (sư): là âm đầu lưỡi trước, có thể đọc gần giống “s” trong tiếng Việt.

18/ zh (trư): cong lưỡi, đọc gần giống “tr” (nặng) trong tiếng Việt.

19/ ch (trư bật hơi): cong lưỡi, đọc gần giống “tr” (bật hơi) trong tiếng Việt.

20/ sh (sư): uốn lưỡi, đọc gần giống “s” trong tiếng Việt.

21/ r (rư): đọc gần giống “r” (không rung lưỡi) trong tiếng Việt.

 

Như vậy là ta đã học xong cách đọc 21 thanh mẫu, bây giờ chúng ta cùng tìm hiểu cách đọc vận mẫu trong tiếng Hoa nào.

 

B: PHẦN 2 VẬN MẪU (những phần ở phía sau thanh mẫu), trong tiếng Hoa hiện đại có tất cả 36 vận mẫu.

1/ a (a): đọc gần giống “a” trong tiếng Việt.

2/ o (uô): đọc gần giống “uô” trong tiếng Việt.

3/ e (ơ, ưa): + e đọc là “ơ” khi không mang dấu, ví dụ: “le” (đọc là lơ)

+ e đọc là “ưa” khi mang dấu, nghĩa là phía bên trên chữ “e” có thêm các dấu (-, /, v, \). Ví dụ: “hē”  đọc là “hưa”, “hé” đọc là “hứa”.

4/ i (i): đọc gần giống “i” trong tiếng Việt.

Chú ý: khi “i” đứng sau các thanh mẫu “z, c, s, zh, ch, sh, r” thì đọc là “ư” trong tiếng Việt.

5/ u  (u): đọc gần giống “u” trong tiếng Việt.

6/ ü (uy): đọc gần giống “uy” nhưng tròn môi.

7/ ai (ai): đọc như “ai” trong tiếng Việt.

Tất cả các vận mẫu kép có “a” đứng đầu đều đọc như tiếng Việt.

8/ ei (ây): đọc như “ây” trong tiếng tiếng Việt.

Tất cả các vận mẫu kép có “e” đứng đầu thì “e” biến thành “â” và đọc gần như tiếng Việt.

9/ ao (ao):  đọc gần như “ao” trong tiếng Việt.

10/ ou (âu): đọc gần như “âu” (chim bồ câu) trong tiếng Việt.

11/ an (an): đọc gần như “an” trong tiếng Việt.

12/ en (ân): đọc gần như “ân” trong tiếng Việt.

13/ ang (ang): đọc gần như “ang” trong tiếng Việt.

14/ eng (âng): đọc gần như “âng” trong tiếng Việt.

15/ ong (ung): đọc gần như “ung” trong tiếng Việt.

16/ ia (ia): đọc nhanh từ “i” sang “a”, ia ia ia iaaaaa.

17/ ie (iê): đọc nhanh từ “i” sang “ê”, iê iê iê ê ê.

18/ iao (i-ao): đọc nhanh từ “i” sang “eo” = i-eo, hoặc dzao.

19/ iou (i-âu): đọc nhanh từ “i” sang “âu”, cũng có thể đọc là “yêu”.

Khi “iou” đứng một mình thì viết là “you”, còn khi “iou” đứng với thanh mẫu thì viết là “iu”,

20/ ian (i-an): đọc nhanh từ “i” sang “an”,.

21/ in (in): đọc gần giống “in” trong tiếng Việt.

22/ ing (ing): đọc gần giống “ing” trong tiếng Việt.

23/ iang (i-ang): đọc nhanh từ “i” sang “ang”, iang.

24/ iong (i-ung): đọc nhanh từ “i” sang “ung”.

25/ üe (uy-ê): đọc nhanh từ “uy” sang “ê”, uyê.

26/ üan (uy-en): đọc nhanh ừ “uy” sang “en”, uy-en.

27/ ün (uy-n): đọc gần giống “uyn” trong tiếng Việt.

28/ er (ơ cong lưỡi): đọc giống “ở cong lưỡi” trong tiếng Việt.

29/ ua (ua): đọc gần giống “ua” trong tiếng Việt.

30/ uo (uô):  đọc gần giống “uô” trong tiếng Việt.

31/ uai (oai): đọc gần giống “oai” trong tiếng Việt.

32/ uei (uây): đọc gần giống “uây” trong tiếng Việt.

33/ uan (oan): đọc gần giống “oan” trong tiếng Việt.

34/ uen (uân): đọc gần giống “uân” trong tiếng Việt.

35/ uang (oang): đọc gần giống “oang” trong tiếng Việt.

36/ ueng (uâng): đọc gần giống “uâng” trong tiếng Việt.

 

Như vậy là chúng ta đã học xong 36 vận mẫu trong tiếng Hoa, bây giờ học thêm các thanh điệu (hay gọi là dấu) là có thể đọc được tất cả các âm latinh rồi. Cũng như trong tiếng Việt, âm tiết trong có các dấu như sau:

C: THANH ĐIỆU (dấu – / v \).

Trong tiếng trung có 4 thanh điệu chính và 1 thanh nhẹ.

1/ thanh 1 “-“  “ā”: thanh ngang, đọc giống tiếng Việt không dấu.

2/ thanh 2 “/” “á”: dấu sắc, đọc gần giống dấu sắc trong tiếng Việt, xuất phát từ trung và cao dần, từ khi dấu sắc cao dần nó gần như dấu ngã nhưng không đến dấu ngã đâu nha.

3/ thanh 3 “v” “ǎ”: dấu hỏi, đọc gần giống dấu hỏi trong tiếng Việt, xuất phát từ trung, xuống thấp rồi lên cao nhanh, giọng người Bắc Kinh họ nói nặng hơi khi thấy thanh này họ đọc thành dấu nặng, và người Đài Loan họ đọc thanh này là thanh huyền. Đó là lý do tại sao người đọc nhẹ và nặng giống như 3 miền bắc – trung – nam của Việt Nam, tùy cơ ứng biến mà nói nhé!.

4/ thanh 4 “\”  “à”: đọc giống dấu nặng, xuất phát từ cao về thấp, nhưng người Đài Loan vẫn dùng thanh huyền nhẹ rất nhẹ.

5/ còn một thanh nữa, thanh không dấu, đọc nhẹ bình thường.

Ví dụ: bā bá bǎ bà (đọc lần lượt là: pa pá pả pa.đọc nhanh).

mā má mǎ mà (đọc lần lượt là: ma má mả ma.đọc nhanh).
Vậy là chúng ta đã học xong Thanh mẫu, vận mẫu và thanh điệu.

 

 

 

CHÚ Ý, BIẾN ĐIỆU CỦA CÁC TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT.

TRƯỜNG HỢP 1: Khi hai thanh 3 đi liền nhau thì thanh 3 thứ nhất đọc thành thanh 2, “v” + “v” -> “/” + “v”.

Ví dụ: “nǐ hǎo” -> “ní hǎo” (âm bồi: ní hảo: xin chào).

“kě yǐ” -> “ké yǐ”   (âm bồi: khứa ỷ: có thể).

Khi 3 thanh 3 đi liền nhau thì 2 thanh ba đầu đổi thành thanh 2, hoặc thanh thứ 2 đổi thành thanh 2.

Ví dụ: “wǒ hěn hǎo” -> đọc là “wó hén hǎo” (úa hấn hảo: tôi rất tốt).

Hoặc -> đọc là “wǒ hén hǎo” (ủa hấn hảo: tôi rất tốt).

TRƯỜNG HỢP 2: Biến điệu của “不“ “bù” , khi đứng sau “bù” là thanh 4 thì ta đọc thành thanh 2 “bú”.

Ví dụ: “bù qù” ->> đọc là “bú qù” (pú chuy: không đi).

“bù duì ” ->> đọc là “bú duì” (pú tuây: không đúng).

“bù tài hǎo” ->> đọc là “bú tài hǎo” (pú thai hảo: không tốt lắm).

“bù shì” ->>  đọc là “bú shì” (pú sư: không đúng).

TRƯỜNG HỢP 3: Biến điệu của “一“ “yī” nguyên gốc là thanh 1.

  • Khi đứng sau “yī” là thanh 4 thì “yī” đổi thành thanh 2 “yí”.

Ví dụ: “yī gè” ->>  đọc là “yí gè” (ý cừa: một cái).

“yī xià” ->> đọc là “yí xià”  (ý xia: một lát).

  • Khi đứng sau “yī” là thanh 1,2,3 thì “yī” đổi thành thanh 4 “yì”.

Ví dụ: “yī nián” ->>  đọc là “yì nián” (y nén: một năm).

“yī běn” ->>  đọc là “yì běn” (y bẩn: một quyển).

“yī bān” ->>  đọc là “yì bān” (y ban: thông thường).

 

CHÚC BẠN HỌC TỐT!

Chia sẻ

Bình luận

Bình luận

2 bình luận

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*